ua, nói
lên những nhận xét của mình rồi tiếp:
- Bố mẹ chẳng muốn giữ chúng làm gì đâu! Khi hai tay buông
xuôi rồi, có mang được tí gì xuống âm phủ đâu mà giữ. Nhưng bố mẹ
nghĩ rằng những đứa con thường chăm chút cho con mình hơn là
chăm chút cho bố mẹ. Vả chăng, khi đang có ăn thì còn có tình nghĩa,
khi đã túng thiếu rồi thì nào biết bố mẹ là gì nữa. Vì vậy, bố mẹ ở
riêng ra như thế này cho đến lúc tắt hơi, làm được gì, ăn nấy, không
phải làm phiền đến các con.
Nghe nói thế ba đứa con hết lời thề thốt. Đứa con thứ nhất thề
rằng dù các em có bỏ bố mẹ chăng nữa thì nó cũng chăm lo cho bố mẹ
đầy đủ. Đứa thứ hai thề rằng nó sẽ không để cho bố mẹ phiền hà lấy
một câu. Đứa thứ ba thề rằng dù nó có nghèo khổ đến đâu, thì cũng
ăn xin về nuôi bố mẹ. Bà vợ ông cũng bảo:
- Các con thề thốt thế, ông nên nghĩ lại. Chim khác, người khác
ông ạ!
Cuối cùng thấy vợ con nói đi nói lại mãi, ông già dần dần xiêu
lòng, bèn lại mời họ hàng một lần nữa chia phắt gia sản còn lại cho
ba đứa con mà không dành lại cho mình một tý gì.
Trong những năm đầu, ba anh em phụng dưỡng bố mẹ tử tế.
Miếng ngon vật lạ hễ nghe đâu có bán là cố tìm mua cho bố mẹ ăn.
Nhưng từ năm thứ ba trở đi, việc hầu hạ đã có phần chểnh mảng.
Thêm vào đó, công việc làm ăn của họ lại không khấm khá gì. Cả ba
đứa con ông cụ đều là những tay "phá gia chi tử" không kém cạnh gì
nhau, nên số tài sản của bố mẹ chia cho không mấy chốc đội nón đi
mất cả. Sự khó khăn ngày một in sâu trên nét mặt họ. Và sự chăm
sóc bố mẹ lại càng chểnh mảng. Hơn nữa, ba anh em họ, nhất là ba
chị em dâu thường ghanh tị nhau từng đồng tiền bát gạo. Trước kia
cả ba hàng năm góp tiền lại cho một người để nuôi bố mẹ. Dần dần
sự đóng góp không còn đầy đủ nh trước. Thấy kẻ này thiều vài quan,
người nọ cũng nhất định giữ lại chừng ấy không chịu đưa. Về sau, họ
bàn nhau mỗi người nuôi bố mẹ một năm. Nhưng người anh cả lại sợ
rằng lỡ ra bố mẹ chết sớm thì người chưa nuôi có lợi mà người đã
nuôi sẽ chịu thiệt thòi, nên rút xuống còn nửa năm, rồi rút xuống ba
tháng. Cuối cùng họ đồng ý mỗi người nuôi một tháng, nhưng không
theo thứ tự nào cả mà bằng cách rút thăm. Càng già gân cốt càng
suy, đi lại không được, do đó càng đòi hỏi phải chăm sóc nhiều. Thế
mà trái lại, mỗi ngày sự nuôi nấng chưa mẹ mỗi tệ, thậm chí con chỉ
mong mau đến thời hạn để tống chưa mẹ đi.
Cứ như vậy chưa đầy ba năm, bố mẹ vì không chịu được đói rét,
lần lượt qua đời. Do truyện này mà có câu:
Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng bể
Con nuôi chưa mẹ con kể từng ngày
hay là:
Cha mẹ nuôi con bể hồ lai láng


BÍNH VÀ ĐINH
Có hai anh em nhà họ Nguyễn; anh tên là Bính đã có vợ, còn
em tên là Đinh thì còn bé, chưa vợ con gì. Từ ngày bố mẹ mất, Đinh
sống chung với anh chị một nhà. Nhưng tính vợ chồng Bính tham
lam, thường coi em như kẻ ăn người ở. Bao nhiêu ruộng tốt, nhà gạch
và đồ đạc quý giá của bố mẹ để lại, Bính giành lấy tất cả. Đã thế, đối
với em, vợ chồng Bính thường tiếng chì tiếng bấc suốt ngày. Đinh lớn
lên, thấy khó chiều ăn ở, bèn xin ra ở riêng. Vợ chồng Bính chia cho
Đinh một gian nhà tranh, mấy đám ruộng xấu, một ít đồ đạc lặt vặt
không đáng kể và nói:
- Của bố mẹ ngày xưa để lại chẳng có gì. Tư cơ của anh chị hiện
nay là do anh chị làm ra. Anh chị chia cho em như vậy là là hậu với
em lắm đó.
Đinh làm việc quần quật mà chẳng khá hơn chút nào. Năm hơn
hai mươi tuổi, anh vẫn chưa lấy được vợ. Vì nợ nần nên lần lượt
những đám ruộng anh được chia đều lọt về tay người khác. Đinh
hàng ngày phải đi làm thuê lên rừng kiếm củi nuôi thân. Mặc dầu
người anh ruột chẳng ngó ngàng gì đến, Đinh vẫn không chút phàn
nàn.
Một ngày như thường lệ, Đinh đi làm thuê cho một phú ông.
Lưúc về đến nhà thì trời bỗng tối mịt. Sắp bước vào ngõ, anh bỗng va
phải một người nằm co bên vệ đường. Đinh cúi xuống đỡ dậy, nhưng
người ấy mấy lần gắng gượng mà vẫn không đứng nổi. Bèn kiếm
đuốc soi, thì thấy đó là một ông lão gầy gò rách rưới, nằm mê man,
lại phóng uế ra bên cạnh, mùi hôi thối xông lên nồng nặc. Đinh lấy
làm thương hại, vội vực ông lão vào nhà lau rửa, rồi đặt lên giường
xoa bóp. Được một lát hơi tỉnh, ông lão rên rỉ nói mình ở làng bên
cạnh, ngày thường vẫn đi ăn mày, nhân đến đây bị cản không thể đi
được, đưành nằm vật xuông, rồi mê man không biết gì nữa. Đinh
nghe nói thế, bèn đi kiếm lá nấu lên cho ông lão xông. Nhờ vậy mà
ông dần khoẻ ra. Đinh lại thổi cơm mời ông dậy ăn. Ông lão không từ
chối. Đinh ngạc nhiên, tuy ông yếu mà ăn rất khoẻ, anh phải bớt bát
nhường khách. Ăn xong, ông lão lại đắp chiếu nằm ngủ. Tiếng ngáy,
tiếng ho khạc của ông, lầm rầm suốt đêm. Độ ba bôn lần Đinh đang
ngủ ngon giấc, bị ông lão thức dậy bảo đưa mình đi giải. Đinh vẫn
không cho thế là phiền.
Sáng sớm hôm sau, Đinh lại dậy sớm thổi cơm, rồi đánh thức
ông lão dậy ăn. Nhưng lần này ông lão không ăn nữa, cất tiếng dõng
dạc bảo Đinh.
- Con thật là một người tốt bụng. Chả lẽ một người tốt bụng mà
phải chịu nghèo khó mãi ? Từ tối hôm qua, con đã hết lòng giúp ta.
Vậy ta cũng có ít nhiều gọi là giúp đỡ con. Con hãy mang ra đây cho
ta một cái chậu và một cái gáo.
Vâng theo lời ông lão, Đinh mang chậu và gáo đến. Anh không
ngờ ông lão sau khi hứng chậu vào sát mặt, tay cầm cán gáo bất
thình lình đánh vào mũi mình một cái rất mạnh. Đinh ngơ ngác
tưởng ông lão điên vội giằng lấy gáo. Nhưng ông khách, tuy già mà
rất khoẻ, xô Đinh ra rồi cứ đập mãi gáo vào mũi mình. Tự nhiên,
máu ở trong mũi ông tuôn ra như xối, được một lát đã chảy đầy chậu.
Đinh đang sửng sốt vì hành động kỳ lạ này, chợt nhìn kỹ vào chậu
thì lạ thay máu đã đông lại thành một chậu vàng. Anh chưa biết nói
thế nào thì thoáng một cái ông lão đã biến đi đâu mất.
Từ đấy, Đinh trở nên giầu có: anh tậu ruộng, tậu vườn, làm
nhà, sắm mọi đồ vật quý giá, lại cưới được một cô vợ đẹp. Vợ chồng
Bính nghe tin Đinh tự nhiên khấm khá hẳn lên thì rất đỗi ngạc
nhiên. Hai người tìm đến nhà em làm bộ vồn vã thăm hỏi. Trong câu
chuyện, Bính cố dò la để hỏi cho ra cơn cớ vì đâu mà một đứa trẻ như
Đinh với mấy đám ruộng còi lại tự nhiêu giàu bốc lên một cách đột
ngột như vây. Đinh không giấu giếm tý nào cả. Anh kể tỉ mỉ nào là
ông tiên giả làm ông lão bị cảm thế nào, anh chăm sóc như thế nào
và ông tiên đập mũi cho chảy máu thành vàng để trả ơn ra sao. Hai
vợ chồng Bính nghe xong còn hỏi kỹ mặt mũi hình dáng ông tiên và
tỏ vẻ ao ước được gặp ông để có cái may mắn như Đinh vừa kể.
ít lâu sau, một hôm Bính đi chơi về đến cổng làng, bỗng gặp
một ông lão đầu râu tóc bạc, quần nâu áo vá đưang chống gậy lần
từng bước. Bính nhìn ngắm nét mặt ông lão thấy hao hao giống ông
tiên mà em mình kể chuyện lần trước. Lập tức, hắn tiến đến khẩn
khoản mời ông về nhà mình chơi. Ông lão lấy làm ngần ngại, ngỏ lời
từ chối, nói mình còn bận. Nhưng Bính đưã miệng mời tay kéo, cố
nèo ông về cho được.
Đến nhà, hắn đưa ông ngồi lên sập, rồi giục vợ mua rượu làm
gà, dọn cỗ linh đình mời ông xơi. Thấy ông lão một mực từ chối, hai
vợ chồng lại càng mời, họ thay nhau hầu hạ ông lão rất kính cẩn, lại
ép ông phải ăn uống thật no say và nói:
- Xin tiên ông cứ thật tình cho, chúng tôi chỉ trông chờ vào mũi
của tiên ông mà thôi!
Ông lão tỏ ý không hiểu câu chuyện ra sao cả, mấy lần lắc đầu
từ chối nói:
- Có lẽ anh chị nhầm lẫn, lão đây có phải là tiên ông đâu!
Đoạn cầm lấy gậy toan bước ra cửa. Nhưng hai vợ chồng nào có
nghe, họ cố giữ lại, ép ông lão ăn xong, lại trải chiếu quạt màn mời
ông lão ngủ. Khi ông lão vừa đặt lưng xuống thì hai vợ chồng đã sắp
sẵn một cái chậu lớn đặt ở dưới sập.
Sáng hôm sau, ông lão ngủ dậy sớm, định cáo từ hai vợ chồng
ra về. Nhưng ông làm sao thoát được. Hai vợ chồng Bính đã lôi cái
chậu ở dưới sập ra hứng vào mặt ông lão, tay cầm một cái dùi đục
đưa cho ông. Ông lão ngơ ngác không biết để làm gì, từ chối không
cầm. Mấy lần Bính toan gõ vào mũi ông, ông lão sợ hãi run lập cập
lấy tay che mũi. Bính nói:
- Thôi, xin tiên ông đừng thử nữa, tôi xin ngài đầy chậu này mà
thôi.
Nói xong, hắn bảo vợ giữ nghiến lấy ông lão, còn mình thì cầm
dùi đục giương thẳng cánh tay đập vào sống mũi cụ già. Chỉ một
giáng, máu mũi ông tuôn ra như xối. Bính khấp khởi nói với vợ:
- Quả y như lời chú nó thật. Chúng ta sắp sửa được đầy chậu
vàng.
Thấy máu ngừng chảy, hắn lại bồi thêm cho ông mấy cái nữa,
làm ông ngã lăn ra, nhìn lại thì ông bị gẫy luôn một lúc mấy cái răng,
máu tuôn lênh láng. Đau quá, nhưng ông lão cũng cố giãy giụa ráng
sức kêu xóm làng.
Nghe tiếng kêu cứu, dân xóm đổ tới rất đông. Hỏi han hai vợ
chồng Bính tại sao tự nhiên vô cớ đón ông về để đánh ông gãy răng
như vậy, thì chúng không biết trả lời làm sao. Hỏi ông lão thì ông
phều phào nói không ra hơi, chỉ cho biết mình làm nghề bán tương ở
làng bên cạnh. Người ta vội mách cho con cái ông lão biết. Đứa con
ông lão đi tìm suốt một đêm qua không thấy, đang lo lắng, bỗng nghe
tin này lòng giận bừng bừng, vội ba chân bốn cẳng chạy đến nhà
Bính. Khi thấy bố mình nằm giữa vũng máu thì hắn liền gô cổ vợ
chồng Bình xuống nện cho một trận nên thân. Đoạn cõng bố và phát
đơn kiện lên quan.
Thế là vợ chồng Bính không những mất số tiền khá lớn để chạy
chữa cho ông gì, mà còn mất bao nhiêu là tiền để đấm mõm bọn quan
nha hào lý. Mặc dầu thế, quan vẫn khép Bính vào điều luật "độc đả
cao niên", bắt hắn nọc đánh đòn ba mươi trượng.


BÍCH CÂU KỲ NGỘ
Vào đời Hồng Đức, có một người học trò nghèo, cha mẹ chết
sớm, trọ học ở phương Bích Câu, phía nam thành Thăng Long.
Chàng rất hay chữ, tuy chưa đỗ đạt gì, người ta gọi chàng là Tú
Uyên.
Một ngày, vào mùa xuân, chùa Ngọc Hồi mở hội Vô Già, thiện
nam tín nữ ở kinh đô và bốn phương tụ họp rất đông. Tú Uyên không
bỏ lỡ cơ hội đi tìm người đẹp. Chàng vui chân đi quanh quẩn mãi đến
tận chiều, bèn ngồi nghỉ ở gốc đưa gần chùa. Chợt trông thấy một cái
lá bay đến trước mặt, chàng nhặt lên xem, thì ra sau lưng lá có đề
một bài thơ, đầy những lời trêu ghẹo. Chàng tưởng có người nào ở
trên lầu cao ném xuống rồi nấp vào một chỗ. Nhưng ngước nhìn mọi
nơi, mãi chẳng thấy gì cả. Đương lúc ngơ ngác, Tú Uyên bỗn